Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Chọn quốc hoa từ góc nhìn marketing

Trong suốt hơn một năm qua, liên tục các phương tiện thông tin đại chúng đã có những bài viết bàn về chọn lựa quốc hoa. Theo đó, một số loại hoa tiêu biểu được đề cập đến nhiều là sen hồng, hoa/cây lúa, hoa/cây tre v.v...

Bỏ qua việc tranh luận chuyện một quốc gia có cần phải có quốc hoa hay không, bài viết này đề cập đến vấn đề từ góc nhìn marketing: Nếu cần phải có quốc hoa dành cho Việt Nam, sự lựa chọn nên là gì?
chon quoc hoa
Chọn quốc hoa từ góc nhìn marketing


Quốc gia: Đi tìm một biểu tượng

Thử đặt câu chuyện về quốc hoa, hay nói rộng hơn là tìm ra một biểu tượng cho quốc gia vào câu chuyện quản trị doanh nghiệp, dễ thấy có sự tương đồng giữa biểu tượng quốc gia và biểu tượng thương hiệu.

Xét từ góc độ doanh nghiệp: Nhiều doanh nghiệp vẫn phát triển mà không cần phải có logo thật chuyên nghiệp, không cần phải có những câu slogan thật kêu. Chúng ta có thể kể ra những doanh nghiệp hàng đầu thế giới "gần như" không có slogan như Google, Microsoft, FaceBook v.v...

Nhưng ngược lại, một công ty phát triển có một logo ấn tượng, một slogan đi vào lòng người sẽ có ưu thế hơn. Thực tế chứng minh, nhắc đến "quả táo cắn dở", người ta sẽ lập tức liên tưởng đến Apple; nhắc đến hình ảnh "Đại tá Sander" với nụ cười hiền hậu, người ta sẽ lập tức nhớ đến KFC. Và dĩ nhiên không thể không kể tới "cánh cổng vàng" (Golden Arches) của Mc Donald's.

Một quốc gia cũng không khác nhiều.


Những quốc gia có biểu tượng mạnh là những quốc gia dễ ghi dấu ấn trong lòng mọi người hơn cả. Singapore có biểu tượng là Sư tử mình cá (Merlion). Nước Mỹ có biểu tượng là con đại bàng. Canada là chiếc lá phong (Maple Leaf). Nói đến Vương quốc Anh, người ta sẽ liên tưởng đến nghĩ đến biểu tượng tam sư dũng mãnh. Nước Pháp gắn liền với hình ảnh của chú gà trống Gaulois kiên cường. Hà Lan là những cánh đồng hoa tulip bát ngát.
biểu tượng mọt số quốc gia
Biểu tượng một số quốc gia


Biểu tượng của một số quốc gia
Có thể thấy, biểu tượng quốc gia có thể là một con vật, một loài hoa, hay một loại cây đặc trưng.

Vậy, một biểu tượng thế nào được coi là một biểu tượng thành công từ góc nhìn marketing?

Khác biệt hóa hay là chết!

Khi trả lời phỏng vấn báo chí về việc lựa chọn quốc hoa của Việt Nam, một đại diện văn hóa đã nói rằng "Sen hồng là sự lựa chọn xác đáng", và nhiều người đã bầu chọn cho sen hồng qua những cuộc trưng cầu trên internet.

Liệu sen hồng có phải là sự lựa chọn tối ưu?

Xét từ góc độ doanh nghiệp, yếu tố đầu tiên tạo thành một biểu tượng thương hiệu thành công sự khác biệt. Chuyên gia marketing lỗi lạc Jack Trout đã lấy điều đó làm tiêu đề cho một cuốn sách về quản trị marketing của ông: "Khác biệt hóa, hay là chết!". Đây là một cuốn sách best selling.

Sen hồng có thể có rất nhiều ý nghĩa tâm linh và cũng là loài hoa phổ biến trong đời sống của người Việt. Nhưng liệu nó có đáp ứng được tiêu chí khác biệt hóa?

Thực ra biểu tượng hoa sen đã được Ấn Độ chọn làm biểu tượng quốc gia. Và đây là lựa chọn đúng đắn của... Ấn Độ. Hoa sen gắn liền với Phật giáo và Ấn Độ là quê hương của Phật giáo.

Ấn Độ đã chọn hoa sen là biểu tượng quốc gia trước. Vậy Việt Nam có nên chọn hoa sen? Nhiều người cho rằng Ấn Độ chọn hoa sen vàng còn Việt Nam chọn hoa sen hồng, là khác biệt.

Trở lại câu chuyện logo. Nói đến Kinh Đô, người ta sẽ hình dung ra hình ảnh của chiếc vương miện (logo của Kinh Đô). Giả sử một doanh nghiệp khác cũng lấy biểu tượng vương miện với màu sắc khác màu sắc logo của Kinh Đô, điều đó có tạo nên sự khác biệt cho doanh nghiệp đó không?

Khi Volvo đã chiếm lĩnh từ "an toàn" trong lĩnh vực xe ô tô, nhiều hãng xe khác cũng đã quảng cáo về sự "an toàn" của mình. Tuy nhiên, điều đó chỉ giúp cho Volvo. Vì càng nhiều người nhắc đến tính an toàn, Volvo - nhãn hiệu sở hữu "xe an toàn" càng được lợi. Tương tự, nếu một doanh nghiệp lấy logo là chiếc vương miện, điều đó chỉ khiến người tiêu dùng nhìn logo và nói: "Hình ảnh vương miện này giống với logo của Kinh Đô".

Nói cách khác, khi một hình ảnh/ý tưởng đã được chiếm lĩnh, người đi sau hãy chọn thứ thật sự khác biệt. Và "hoa sen hồng", theo người viết, không đủ để khác biệt hóa với "hoa sen" là biểu tượng quốc gia đã được Ấn Độ chiếm lĩnh.

Thế nào là một biểu tượng tốt?


Một biểu tượng tốt cũng như một logo tốt hay một slogan tốt, nó phải giúp doanh nghiệp: 1. Định vị bản thân, và 2. Tạo sự khác biệt đối với các thương hiệu khác cùng ngành hàng trên thương trường. Dĩ nhiên, sẽ là lý tưởng nếu nó còn có thể chỉ ra 3. Điểm ưu việt đáng giá so với những thương hiệu còn lại.

Hãy xem thử Avis. Họ biết rằng mình chỉ nằm ở vị trí thứ 2 trong lĩnh vực xe cho thuê. Đó là lý do họ gắn liền tên tuổi với câu slogan nổi tiếng: "Chúng tôi cố gắng hơn" (We try harder). Đó là điều hoàn toàn logic đối với khách hàng. Câu slogan của Avis còn lợi hại ở chỗ, nó tạo được cảm tình với khách hàng: Chúng tôi biết mình chỉ đứng ở vị trí số 2. Vậy tại sao bạn lại lựa chọn chúng tôi? Vì chúng tôi cố gắng hơn kẻ số 1: Hertz.

Dĩ nhiên, Hertz cũng không phải là tay mơ. Kẻ thống trị trong lĩnh vực xe cho thuê đã đáp trả bằng một slogan mạng mẽ: "Chúng tôi là Hertz. Họ không phải!) (We're Hertz. They're not). Câu slogan này đã làm được cả ba yêu cần phải có của một slogan hoàn hảo: Định vị vị trí số 1 của mình, nói ra được sự khác biệt hóa của mình đối với các thương hiệu khác, và chỉ ra điểm ưu việt về vị trí dẫn đầu đáng giá của mình đối với khách hàng.
Hai slogan kinh điển của Avis và Hertz

Như vậy, giữa hai hình ảnh còn lại: hoa/cây lúa và hoa/cây tre, biểu tượng quốc gia Việt Nam nên lựa chọn là gì?
Cả hai loại cây/hoa đó đều xứng đáng là biểu tượng quốc gia của Việt Nam.
Tuy nhiên, từ góc nhìn marketing, người viết đứng về phía tre. Nhưng sẽ không phải là cây tre hay hoa tre, mà là chiếc lá tre. Lý do: Khi lựa chọn biểu tượng, nên tập trung hóa và đơn giản hóa tối đa.
Lá tre đáp ứng được những tiêu chí cơ bản khi thiết kế nên một biểu tượng đi vào lòng người. Đó là: 1. Sự đơn giản; 2. Sự liên tưởng đúng đắn. E rằng sẽ khó có thể thiết kế được một bông lúa thật đơn giản và có thể tạo được liên tưởng đúng đắn, bởi nó có thể bị lẫn với bông lau, và nói cho cùng, nó phức tạp hơn nhiều so với một chiếc lá tre.
Một điều quan trọng khác sau khi đã chọn được biểu tượng cho doanh nghiệp/quốc gia, đó là tạo dựng câu chuyện. Nếu chọn lá tre, phần việc này bỗng trở nên dễ dàng hết mức. Tre đã từ lâu nằm trong tiềm thức văn hóa dân gian người Việt. Từ "cây tre trăm đốt" cho đến cây tre Thánh Gióng dùng để quét sạch giặc Ân, chưa kể là bao lũy tre xanh ngát trải từ Nam ra Bắc trên khắp hình chữ S.

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

So sánh các mạng internet

I. FPT
• Điểm mạnh: Kí hợp đồng cực nhanh, ngoài ra FPT luôn có những bước đi tiên phong trong việc mở rộng dịch vụ so với 2 nhà mạng còn lại. Băng thông rộng nhất, cao hơn hẳn các mạng khác. Giá thành rẻ nhất so với các gói cước có băng thông tương đương. Đáp ứng được nhu cầu sử dụng của khách có số lượng model phong phú cho khách hàng chọn lựa 4 port, wifi 1 port, wifi 4 port. Khách hàng có thể chia thêm cổng để sử dụng, thời gian lắp đặt cực nhanh. Do kéo riêng đường dây nên tốc độ truy cập được nhanh và ổn định.
• Chất lượng đường truyền: Chất lượng đường truyền tốt nhất trong tất cả các nhà mạng của Việt Nam đặc biệt là những trang từ Việt Nam
• Thiếu một số cổng ở nhiều nơi trong thành phố do cơ sở hạ tầng đang trong thời gian xây dựng và lắp đặt.

So sánh các mạng internet

II. VNPT
• Điểm mạnh: là đơn vị có truyền thống lâu đời, cơ sở vật chất vững vàng, chất lượng đường truyền tạm ổn định.
• Điểm yếu: là 1 doanh nghiệp nhà nước đơn thuần, VNPT không thể tránh khỏi những điểm yếu chết người: thủ tục rườm rà, rắc rối, thái độ nhân viên tiếp khách hàng rất kém chuyên nghiệp, ít khuyến mãi và giá cước luôn nằm trong top đắt nhất.
• Chất lượng đường truyền: ổn định, đường truyền trong nước của đường FTTH giữa 3 nhà mạng không chênh lệch nhau nhiều
• Thời gian hỗ trợ kỹ thuật: có thể chấp nhận, trung bình nếu gọi hỗ trợ vào buổi sáng thì đầu giờ chiều kỹ thuật sẽ đến, 1 điểm trừ cho VNPT là kỹ thuật có trình độ không nhiều.
III. Viettel
• Điểm mạnh: cơ sở hạ tầng tốt, đường truyền mạng tạm chấp nhận được
• Điểm yếu: sinh sau đẻ muộn so với FPT và VNPT không tránh được những yếu kém bước đầu của doanh nghiệp có mới xâm nhập thị trường internet không quá lâu.
• Chất lượng đường truyền: ổn định, đường truyền trong nước tốt tuy không nhanh bằng FPT
• Xác suất xảy ra sự cố: thấp, với cơ sở hạ tầng không thua kém là mấy so với VNPT, chuyện đứt cáp cũng không xảy ra nhiều.
• Thời gian hỗ trợ kĩ thuật: nhanh, tuy nhiên chắc các nhà mạng tiết kiệm chi phí chỉ thuê kĩ thuật trung cấp, cao đẳng nên trình độ cũng không cao lắm.



(Theo trang tin lắp đặt mạng FPT)

Những điều cần lưu ý khi lắp mạng FPT

Những điều cần biết khi lắp mạng FPT
Công ty FPT Telecom chi nhánh Hà Nội
Để đáp ứng và nâng cao chất lượng dịch vụ của công ty FPT Telecom chúng tôi đưa ra một số điều chú ý liên quan đến dịch vụ khách hàng của công ty FPT Telecom.
Để giúp khách hàng hiểu rõ hơn về dịch vụ của FPT mong quý khách đọc kỹ bài viết này.
1.       Đối với khách hàng đăng ký internet FPT Hà Nội lần đầu
Quý khách gọi theo số 0977.795.031 hoặc số 0977.042.294 để được tư vấn các gói cước hợp lý và chính xác.
Nếu quý khách đồng ý ký hợp đồng thì nhân viên sẽ đến tận nơi ở hoặc nơi quý khách hẹn để ký hợp đồng.
Quý khách chỉ phải thanh toán số tiền được ghi rõ ràng trên hóa đơn.
Nhà cung cấp mạng FPT chỉ hoàn thành xong hợp đồng khi quý khách đóng đủ số tiền trên hóa đơn.
Thời gian sớm nhất là ngay ngày hôm sau muộn nhất là sau ba ngày FPT sẽ triển khai hợp đồng đã ký.
Thời gian khiển khai có thể không như kế hoạch nếu yếu tố thời tiết không cho phép (mưa dài ngày không đảm bảo an toàn kỹ thuật….)
lắp mạng fpt
Lắp mạng FPT

Trường hợp khách hàng đang sử dụng mạng Internet FPT
Khi gặp bất kỳ một sự cố gì về mạng quý khách có thể gọi theo số 04300.8888 ấn phím 2 để được nhân viên chăm sóc khách hàng hỗ trợ trực tiếp.
Quý khách đang sử dụng mà có nhu cầu chuyển địa điểm quý khách có thể đến quầy giao dịch của FPT để làm thủ tục chuyển địa điểm với điều kiện phải có hạ tầng.
Trường hợp khách hàng đã sử dụng qua 12 tháng thủ tục là miễn phí.
Nếu quý khách muốn đang dùng modem thường muốn đổi modem wifi thì quý khách mang modem và hợp đồng lên phòng giao dịch làm thủ tục chuyển đổi.

(Theo trang Lắp mạng FPT)




Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

Internet



Internet (thường được đọc theo khẩu âm tiếng Việt là "in-tơ-nét") là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP). Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân, và các chính phủ trên toàn cầu.
Lợi ích
Nối mạng internet lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), máy truy tìm dữ liệu (search engine), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân, và các dịch vụ về y tế giáo dục như là chữa bệnh từ xa hoặc tổ chức các lớp học ảo. Chúng cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet.

Nguồn thông tin khổng lồ kèm theo các dịch vụ tương ứng chính là hệ thống các trang Web liên kết với nhau và các tài liệu khác trong WWW (World Wide Web). Trái với một số cách sử dụng thường ngày, Internet và WWW không đồng nghĩa. Internet là một tập hợp các mạng máy tính kết nối với nhau bằng dây đồng, cáp quang, v.v.; còn WWW, hay Web, là một tập hợp các tài liệu liên kết với nhau bằng các siêu liên kết (hyperlink) và các địa chỉ URL, và nó có thể được truy nhập bằng cách sử dụng Internet. Trong tiếng Anh, sự nhầm lẫn của đa số dân chúng về hai từ này thường được châm biếm bằng những từ như "the intarweb". Tuy nhiên việc này không có gì khó hiểu bởi vì Web là môi trường giao tiếp chính của người sử dụng trên internet. Đặc biệt trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 nhờ sự phát triển của các trình duyệt web và hệ quản trị nội dung nguồn mở đã khiến cho website trở nên phổ biến hơn, thế hệ web 2.0 cũng góp phần đẩy cuộc cách mạng web lên cao trào, biến web trở thành một dạng phần mềm trực tuyến hay phần mềm như một dịch vụ.

Các cách thức thông thường để truy cập Internet là quay số, băng rộng, không dây, vệ tinh và qua điện thoại cầm tay.
Các trình duyệt Web phổ biến
Các chương trình duyệt Web thông dụng ở thời điểm này – năm 2011 – là:

    Internet Explorer có sẵn trong Microsoft Windows, của Microsoft
    Mozilla Firefox của Tập đoàn Mozilla
    Google Chrome của Google
    Netscape Navigator của Netscape
    Opera của Opera Software
    Safari trong Mac OS X, của Apple Computer
    Maxthon của MySoft Technology
    Avant Browser của Avant Force (Ý).
Các hệ quản trị nội dung phổ biến
Các hệ quản trị nội dung nguồn mở thông dụng ở Việt Nam – năm 2012 – là:

    DotNetNuke (ASP.Net+VB/C#), phát triển bởi Perpetual Motion Interactive Systems Inc.
    Drupal (PHP), phát triển bởi Dries Buytaert
    Joomla (PHP), phát triển bởi Open Source Matters
    Liferay (Jsp, Servlet), phát triển bởi Liferay, Inc
    Magento (PHP), phát triển bởi Magento Inc.
    Mambo (PHP), phát triển bởi Mambo Foundation Inc., do Miro Software Solutions - Úc - quản lý.
    NukeViet (PHP), phát triển bởi VINADES.,JSC - Việt Nam
    PHP-Nuke (PHP), phát triển bởi Francisco Burzi
    Wordpress (PHP), phát triển bởi WordPress Foundation
    Xoops (PHP), phát triển bởi The XOOPS Project

Lịch sử tuan
Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET. Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara. Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên được xây dựng.

Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974. Lúc đó mạng vẫn được gọi là ARPANET. Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này. Năm 1984, ARPANET được chia ra thành hai phần: phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPANET, dành cho việc nghiên cứu và phát triển; phần thứ hai được gọi là MILNET, là mạng dùng cho các mục đích quân sự.

Giao thức TCP/IP ngày càng thể hiện rõ các điểm mạnh của nó, quan trọng nhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng. Chính điều này cùng với các chính sách mở cửa đã cho phép các mạng dùng cho nghiên cứu và thương mại kết nối được với ARPANET, thúc đẩy việc tạo ra một siêu mạng (SuperNetwork). Năm 1980, ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột của Internet.

Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập niên 1980 khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET. Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET và do đó sau gần 20 năm hoạt động, ARPANET không còn hiệu quả đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990.

Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khác đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet. Tới năm 1995, NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển.

Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội... Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet.
Sự xuất hiện của WWW
Năm 1991, Tim Berners Lee ở Trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu (Cern) phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa theo một ý tưởng về siêu văn bản được Ted Nelson đưa ra từ năm 1985. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng trên Internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng.

Năm 1994 là năm kỉ niệm lần thứ 25 ra đời ARPANET, NIST đề nghị thống nhất dùng giao thức TCP/IP. WWW đã trở thành dịch vụ phổ biến thứ 2 sau dịch vụ FTP. Những hình ảnh video đầu tiên được truyền đi trên mạng Internet.
Các ISP
ISP (Internet Service Provider) là nhà cung cấp dịch vụ Internet. Các ISP phải thuê đường và cổng của một IAP. Các ISP có quyền kinh doanh thông qua các hợp đồng cung cấp dịch vụ Internet cho các tổ chức và các cá nhân.

Các loại ISP dùng riêng được quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ Internet. Điều khác nhau duy nhất giữa ISP và ISP riêng là không cung cấp dịch vụ Internet vào mục đích kinh doanh. Người dùng chỉ cần thoả thuận với một ISP hay ISP riêng nào đó về các dịch vụ được sử dụng và thủ tuc thanh toán được gọi là thuê bao Internet.
Một số mốc thời gian
            Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia.
Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác.
Thời kỳ phôi thai

    Năm 1969 Bộ Quốc phòng Mĩ đã xây dựng dư án ARPANET để nghiên cứu lĩnh vục mạng, theo đó các máy tính được liên kết với nhau và sẽ có khả năng tự định đường truyến tin ngay sau khi 1 phần mạng đã được phá hủy
    Năm 1972 trong 1 cuộc hội nghị quốc tế về truyền thông máy tính, Bob Kahn đã trình diễn mạng ARPANET liên kết 40 máy thông qua các bộ xử lí giao tiếp giữa các trạm cuối Terminal Interface Processor-TIP. Cũng năm này nhóm interNET Working Group (INWG)do Vinton Cerf làm chủ tịch ra đời nhằm đáp ứng nhu cầuthiết lập giao thức bắt tay(agreed-upon).Năm 1972 cũng là năm Ray Tomlinson đã phát minh ra E-mail để gửi thông điệp trên mạng.Từ đó đến nay, E-mail là một trong những dich vụ được dùng nhiều nhất
    Năm 1973,một số trường đại học của Anh và của Na-uy kết nối vào ARPANET.Cũng vào thời gian đó ở đại học Harvard, Bob Metcalfe đã phác họa ra ý tưởng về Ethernet(một giao thức trong mạng cục bộ)
    Tháng 9/1973 Vinto Cerf và Bob Kahn đề xuất những cơ bản của internet.Đó chính là những nét chính của giao thức TCP/IP
    Năm 1974 BBN đã xây dựng giao thức ứng dụng Telnet cho phép sử dụng máy tính từ xa.
    Năm 1976 phòng thí nghiệm của hãng AT&T phát minh ra dịch vụ truyền tệp cho mạng FTP
    Năm 1978 Tom Truscott và Steve Bellovin thiết lập mạng USENET dành cho những người sử dụng UNIX. Mạng USENET là 1 trong những mạng phát triển sớm nhất và thu hút nhiều người nhất.
    Năm 1979 ARPA thành lập ban kiểm soát cấu hình internet.
    Năm 1981 ra đời mạng CSNET(Computer Science NETwork) cung cấp các dịch vụ mạng cho các nhà khoa học ở trường đại học mà không cần truy cập vào mạng ARPANET.
    Năm 1982 các giao thức TCP và IP được DAC và ARPA dùng đối với mạng ARPANET.Sau đó TCP/IP được chọn là giao thức chuẩn.
    Năm 1983 ARPANET được tách ra thành ARPANET và MILNET.MILNET tích hợp với mạng dữ liệu quốc phòng, ARPANET trở thành 1 mạng dân sự.Hội đồng các hoạt động internet ra đời, sau này được đổi tên thành Hội đồng kiến trúc internet

Thời kỳ bùng nổ lần thứ nhất của Internet

    Năm 1986 mạng NSFnet chính thức được thiết lập, kết nối năm trung tâm máy tính.Đây cũng là năm

có sự bùng nổ kết nối, đặc biệt là ở các trường đại học.Như vậy là NSF và ARPANET song song tồn tại theo cùng 1 giao thức, có kết nối với nhau.

    Năm 1990, với tư cách là 1 dự án ARPANET dừng hoạt động nhưng mạng do NSF và ARPANET tạo ra đã

được sử dụng vào mục đích dân dụng, đó chính là tiền thân của mạng internet ngày nay.Một số hãng lớn bắt đầu tồ chức kinh doanh trên mạng.

    Đến lúc này đối tượng sử dụng internet chủ yếu là những nhà nghiên cứu và dịch vụ phổ biến nhất là E-mail va FTP.Internet là 1 phương tiện đại chúng.

Thời kỳ bùng nổ lần thứ hai với sự xuất hiện của WWW

    Năm 1991 Tim Berners Lee ở trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu CERN phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa theo ý tưởng về siêu văn bản được Ted Nelson đưa ra từ năm 1985. Có thể nói đây là 1 cuộc cách mạng trên internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin 1 cách dễ dàng, nhanh chóng.
    Cũng vào thời gian này NSFnet backbone được nâng cấp đạt tốc độ 44736Mbps. NSFnet truyền 1 tỉ tỉ byte/tháng và 10 tỉ gói tin/tháng.
    Năm 1994 là năm kỉ niệm lần thứ 25 ra đời ARPANET, NIST đề nghị thống nhất dùng giao thức TCP/IP.WWW trở thành dịch vụ phổ biến thứ hai sau dịch vụ FTP.Những hình ảnh video đầu tiên được truyền đi trên mạng internet. WWW vượt trội hơn FTP và trở thành dịch vụ có số lưu thông lớn nhất căn cứ trên số lượng gói tin truyền và số byte truyền.Các hệ thống quay số trực tuyến truyền thống như CompuServe, AmericanOnline, Prodigy bắt đầu khả năng kết nối internet.
    Tháng 10 năm 1994 Tập đoàn truyền thông Netscape cho ra đời phiên bản beta của trình duyệt Navigator 1.0 nhưng còn cồng kềnh và chạy rất chậm.
    Hai công ti trở thành đối thủ của nhau, cạnh tranh thị trường trình duyệt.Ngày 11 tháng 6 năm 1997,Netscape công bố phiên bản trình duyệt 4.0.Ngày 30 tháng 10 cũng năm đó có Microsoft cũng cho ra đời trình duyệt của mình phiên bản 4.0.
    Tháng 7 năm 1996,Công ti Hotmail bắt đầu cung cấp dịch vụ Web Mail.Sau 18 tháng đã có 12 triệu người sử dụng và vì thế đã được Microsoft mua lại với giá 400 triệu USD.
    Triển lãm internet 1996 World Exposition là triển lãm thế giới đầu tiên trên mạng internet.

Mạng không dây ngày càng phổ biến

    Năm 1985,Cơ quan quản lí viễn thông của Mĩ quyết định mở cửa một số băng tần của giải phóng không dây, cho phép người sử dụng chúng mà không cần giấy phép của chính phủ.Đây là bước mở đầu cho các mạng không dây ra đời và phát triển rất nhanh.Ban đầu các nhà cung cấp các thiết bị không dây dùng cho mạng LAN như Proxim và Symbol ở Mĩ đều phát triển các sản phẩm độc quyền, không tương thích với các sản phẩm của các công ti khác. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải xác lập 1 chuẩn không dây chung.
    Năm 1997, một tiểu ban đã tiến hành thương lượng hợp nhất các chuẩn và đã ban hành chuẩn chính thức IEE 802.11.Sau đó là chuẩn 802.11b và chuẩn 802.11a lần lượt được phê duyệt vào các năm 1999 và năm 2000.
    Tháng 8 năm 1999 sáu công ty gồm Intersil, 3Com, Nokia, Aironet, Symbol và Lucent liên kết tạo thành liên minh tương thích Ethernet không dây VECA. Thuật ngữ Wi-Fi ra đời, là tên gọi thống nhất để chỉ công nghệ kết nối cục bộ không dây đã được chuẩn hóa.

Kiểm duyệt Internet

Một số quốc gia đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để thực hiện công tác kiểm duyệt, lọc thông tin thông qua các nhà cung cấp dịch vụ Internet, như tại Trung Quốc, Syria, Bắc Triều Tiên, Việt Nam.

Thực trạng internet ở Việt Nam



Ở Việt Nam có ba mạng viễn thông lớn là FPT, VNPT, VIETTEL đang cạnh tranh nhau rất khốc liệt về khách hàng và ADSL băng thông rộng ngày càng gay gắt, chính điều đó làm cho các doanh nghiệp phải đưa ra những chính sách phù hợp để đưa ra cạnh tranh với nhau vừa đảm bảo được chất lượng và giá thành. Trong bài này chúng tôi sẽ cho các bạn có cách nhìn tổng quát về nối mạng internet tại Việt Nam hiện nay những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế của tất các mạng nhằm đưa ra những lựa chọn thích hợp nhất cho khách hàng Việt Nam lựa chọn.
Sau nhiều năm nghiên cứu và phân tích thị trường internet Việt Nam hiện nay thì chúng tôi nhận thấy thị phần của ba đại gia đều phân tán rất đồng đều nhau (theo khu vực) về cơ sở hạ tầng thì không thống nhất và không chuyên nghiệp mới có một vệ tinh Vinasart 1 một phần cho băng thông internet và mạng thì nhanh ở Việt Nam mạng thì nhanh ở quốc tế, về linh kiện modem và cap thì chưa tự sản xuất được đều phải nhật từ nước ngoài chủ yếu là Trung Quốc với giá rẻ kể cả hệ thống tín hiệu.
Đấy chính là một phần nguyên nhân làm cho internet Việt Nam chậm hơn thế giới rất nhiều, ấy vậy mà các mạng viễn thông phải luôn luôn chú ý đến chất lượng mà chúng ta có thể nhận ra là lắp mạng fpt, với những khó khăn đó FPT đã nhanh chóng khắp phục được tốc độ đường truyền nâng được cao nhất tốc độ trong ba đại gia lớn. Song chúng ta cũng phải thừ nhận sự cố gắng nỗ lực của các mạng viễn thông nước ta khắc phục rất nhanh sau chiến tranh